PHP: Giới thiệu


PHP là gì?

Cụm ký tự PHP ban đầu được viết tắt bởi cụm từ Personal Home Page, và được phát triển từ năm 1994 bởi Rasmus Lerdorf. Lúc đầu chỉ là một bộ đặc tả Perl, được sử dụng để lưu dấu vết người dùng trên các trang web. Sau đó, Rasmus Lerdorf đã phát triển PHP như là một máy đặc tả (Scripting engine). Vào giữa năm 1997, PHP đã được phát triển nhanh chóng trong sự yêu thích của nhiều người. PHP đã không còn là một dự án cá nhân của Rasmus Lerdorf và đã trở thành một công nghệ web quan trọng. Zeev Suraski và Andi Gutmans đã hoàn thiện việc phân tích cú pháp cho ngôn ngữ để rồi tháng 6 năm 1998, PHP3 đã ra đời (phiên bản này có phần mở rộng là *.php3). Cho đến tận thời điểm đó, PHP chưa một lần được phát triển chính thức, một yêu cầu viết lại bộ đặc tả được đưa ra, ngay sau đó PHP4 ra đời (phiên bản này có phần mở rộng không phải là *.php4 mà là *.php). PHP4 nhanh hơn so với PHP3 rất nhiều.

PHP bây giờ được gọi là "PHP: Hypertext PreProcesor" với phiên bản phát hành vào ngày 19/02/2015 là 5.6.6 .

Tại sao phải sử dụng PHP?

Ta hoàn toàn có thể xây dựng được những trang web bằng ngôn ngữ HTML (HyperText Markup Language). Tuy nhiên đây chỉ là những trang web tĩnh, nghĩa là chúng chỉ chứa đựng một nội dung cụ thể với những dòng văn bản và hình ảnh đơn thuần, và có thể được sự hỗ trợ bởi CSS và JavaScript. Những trang web như vậy người ta thường gọi là client-side. Tuy nhiên, Internet và Intranet đã được sử dụng cho các ứng dụng cần tới cơ sở dữ liệu. Các trang ứng dụng như vậy được gọi là trang web động, bởi vì nội dung của chúng thay đổi tùy thuộc vào dữ liệu và người sử dụng. PHP là ngôn ngữ làm được những điều như vậy. Bằng cách chạy chương trình PHP trên máy chủ Web server, bạn có thể tạo ra các ứng dụng có sự tương tác với cơ sở dữ liệu để tạo ra những trang web và đây được gọi là trang web động. Chúng ta hãy xem xét cách hoạt động của trang web được viết bằng ngôn ngữ HTML và PHP như thế nào.

Với các trang HTML, khi có yêu cầu tới một trang web từ phía người sử dụng (browser), web server sẽ thực hiện ba bước sau:

Bước 1: Đọc yêu cầu từ phía browser

Bước 2: Tìm trang web trên server

Bước 3: Gửi trang web đó trở lại cho browser (nếu tìm thấy) qua mạng Internet hoặc Intranet.

Còn với các trang PHP, khác với các trang HTML, khi một trang PHP được yêu cầu thì Web server sẽ phân tích và thi hành các đoạn mã PHP để tạo ra trang HTML. Điều đó được thể hiện bằng bốn bớc sau:

Bước 1: Đọc yêu cầu tử phía browser

Bước 2: Tìm trang web trên server

Bước 3: Thực hiện các đoạn mã PHP trên trang web đó để sửa đổi nội dung của trang

Bước 4: Gửi trở lại nội dung cho browser (đây là trang HTML có thể hiển thị được bởi trình duyệt Internet Explorer hoặc trình duyệt nào đó).

Tóm lại, sự khác nhau giữa HTML và PHP là HTML không được thực hiện trên máy chủ Web server, còn các trang *.php viết bằng các đoạn mã PHP được thực hiện trên máy chủ Web server do đó nó linh động và mềm dẻo hơn.

Hiện tại, đa số các web site được thiết kế bằng ngôn ngữ PHP và có thể nói PHP được dùng để tạo mọi loại web site từ nhỏ đến lớn, mạng xã hội được coi là lớn nhất thế giới hiện nay Facebook chính là một sản phẩm của PHP.

Những điểm mạnh của PHP

- PHP thực hiện với tốc độ rất nhanh và hiệu quả. Một Server bình thường có thể đáp ứng được hàng triệu truy cập tới trong một ngày. PHP hỗ trợ kết nối tới rất nhiều hệ CSDL khác nhau: như PostgreSQL, mSQL, Oracle, dbm, filePro, Hyperware, informix, InterBase, Sybase, ... Ngoài ra còn hỗ trợ kết nối với ODBC thông qua đó có thể kết nối với nhiều ngôn ngữ khác mà ODBC hỗ trợ.

- Thời gian để hoàn thành một web site bằng ngôn ngữ PHP có thể nói là rất nhanh, không một ngôn ngữ nào có thể so sánh được với PHP về điều này, đặc biệt thời gian thiết kế còn có thể nhanh hơn nữa nếu web site được thiết kế bằng một framework như Laravel, Joomla, Zend, Code Ignitor, ...

- PHP cung cấp một hệ thống thư viện phong phú. Do PHP ngay từ đầu được thiết kế nhằm mục đích xây dựng và phát triển các ứng dụng trên web nên PHP cung cấp rất nhiều hàm xây dựng sẵn giúp thực hiện các công việc rất dễ dàng: gửi, nhận mail, làm việc với các cookie, session, và nhiều thứ khác nữa.

- PHP là một ngôn ngữ rất dễ dùng, dễ học và đơn giản hơn nhiều so với các ngôn ngữ khác như Perl, Java. Nếu bạn đã biết ngôn ngữ C thì mọi việc sẽ hoàn toàn thuận lợi.

- PHP có thể sử dụng được trên nhiều hệ điều hành, chúng ta có thể viết chúng trên Unix, Linux và các phiên bản của Windows, và có thể đem mã PHP này chạy trên các hệ điều hành khác mà không phải sửa đổi lại mã.

- PHP là ngôn ngữ mã nguồn mở.

Next »